Lịch Sử Campuchia

Đăng lúc: Thứ hai - 15/07/2013 21:26 - Người đăng bài viết: lê văn toàn

Vương quốc Campuchia là một trong những địa điểm du lịch mới và hẫp dẫn nhất trên thế giới. Sau hơn 25 năm cô lập, Campuchia mở cửa đón khách du lịch vào những năm đầu của thập niên 90 và lượng khách du lịch tăng lên qua từng năm.

Lịch Sử Campuchia

Lịch Sử Campuchia

Lịch sử của Campuchia bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên với việc ra đời của Vương quốc Phù Nam (Funan), được cho là quốc gia đầu tiên ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ tại vùng Đông Nam Á. Ngày nay, văn hóa, các phong tục truyền thống và cả ngôn ngữ của người Khmer hầu hết đều bắt nguồn từ giai đoạn này. Chữ Phạn, một nhánh của ngữ hệ Môn-Khmer là ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp và viết trong thời kỳ đó. Tôn giáo trong giai đoạn đầu là Đạo Hindu, thống trị một thời gian rất dài trước khi Đạo Phật được phổ biến tại đây. Các chứng tích về sự giao thoa văn hóa và tôn giáo này ngày nay vẫn còn tồn tại rất nhiều tại Campuchia, thể hiện qua các công trình kiến trúc cổ, cách thức làm nông nghiệp của người dân và cả thông qua các trang phục truyền thống.

Vương quốc Phù Nam khi đó nằm trên vùng đất ngày nay là các tỉnh phía nam Campuchia và Tây Nam Việt Nam, tồn tại trên 600 năm. Triều đại này dần suy sụp vào thế kỷ thứ 7 và bị Vương quốc Chân Lạp (Chenla) xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ. Chân Lạp là quốc gia có vị trí tại phía Bắc Campuchia và Nam Lào ngày nay. Triều đại cầm quyền của Chân Lạp có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Tên gọi Campuchia, xuất hiện vào khoảng thế kỷ 10, gắn với tên nhân vật này. Sau năm 707, Chân Lạp bị chia rẽ nội bộ rồi tách thành hai quốc gia Lục Chân Lạp còn gọi là Thượng Chân Lạp (chiếm cứ vùng rừng núi phía Bắc) và Thủy Chân Lạp (chiếm cứ vùng đồng bằng sông Mekong bao gồm các tỉnh phía Nam Campuchia và Tây Nam Việt Nam ngày nay). Đến năm 715, một số nước nhỏ hơn tiếp tục tách ra khỏi hai nước trên làm cho Chân Lạp càng suy yếu.

Đây chính là thời điểm hình thành là phát triển của Đế chế Angkor hùng mạnh, thiết lập nên một vương quốc của người Khmer.

Các thế hệ vua của Đế chế Angkor được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ và quần đảo Java thuộc Indonesia ngày nay, thay nhau cai trị trong khoảng 650 năm trên một lãnh thổ rộng lớn kéo dài từ Miến Điện (Myanmar) ở phía Tây ra tới Biển Đông của Việt Nam và phần Nam Lào ngày nay. Chính các vua của Đế chế Angkor đã xây dựng vô số các đền tháp, cung điện mà ngày nay được xem là kỳ quan nhân tạo của loài người. Các công trình này được xây dựng trên khắp lãnh thổ của Đế chế,Angkor Wat là thành tựu rực rỡ nhất. Các vị vua được nhắc đến nhiều nhất trong thời kỳ này là: Jayavarman II, Indravarman I, Suryavarman II, Jayavarman VII. Bên cạnh các công trình kiến trúc hũng vĩ bậc nhất trên thế giới, các vị vua này còn là những người đem lại sự phát triển vượt bậc cho nền văn minh nông nghiệp với các thành tựu như hàng loạt kênh tưới tiêu phức tạp, các hồ dự trữ nước và vô số hệ thống giao thông đường thủy đảm bảo việc vận chuyển lương thực. Nhiều hệ thống này vẫn còn được sử dụng cho đến ngày hôm nay.

Angkor trở thành kinh đô của Đế chế, nơi tập trung bộ máy quyền lực, giáo dục, tôn giáo và thương mại. Tuy nhiên, cuối thế kỷ 13 một cuộc binh biến đã xảy ra. Angkor bị xâm lược và cuối cùng hoàn toàn tan rã. Một trong những thành tựu sáng tạo vĩ đại nhất của loài người bị tàn phá nặng nề. Toàn bộ cư dân và sự hùng mạnh đáng tự hào trước đây trở nên bị lãng quên và dần bị rừng rậm che phủ và tàn phá.

Sau khi Angkor bị lãng quên, kinh đô của Campuchia dời về phía nam tại Long Vek, rồi Ou Đông, và cuối cùng là Phnom Penh. Sự tàn phá kinh đô Angkor hùng mạnh cũng gây ra một sự suy sụp, thay đổi trong tôn giáo, Đạo Phật Tiểu thừa (còn gọi là Nam Tông) đã chiếm vị trí độc tôn của Đạo Hindu, trở thành quốc đạo.

Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, Campuchia thường xuyên bị người Thái và người Việt xâm lấn. Luôn sống trong cảnh phải kháng cự với các thế lực ngoại bang, cuối cùng Campuchia rơi vào ách thực dân của người Pháp. Năm 1863, vua Norodom ký Thỏa ước bảo hộ với nước Pháp, đặt Campuchia dưới sự cai trị của thực dân Pháp trong 90 năm sau đó. Sua khi vua Norodom chết năm 1904, một người trong hoàng tộc là Sisowath trở thành vị vua mới của Vương quốc Campuchia, vẫn dưới sự cai trị của người Pháp. Tuy nhiên, ngai vàng sau đó lại quay trở lại với dòng chính thức của vua Norodom khi vua Norodom Sihanouk lên ngôi vào năm 1941, khi đó ông mới 18 tuổi. Không lâu sau đó, chiến tranh Thế giới lần thứ II lan đến Campuchia khi quân Nhật đánh bại lực lượng Pháp tại Đông Dương. Vua Sihanouk tận dụng thời cơ đưa đất nước thoát khỏi sự cai trị của ngoại bang.

Nhiều năm sau đó, ông vẫn luôn kiên trì với mục tiêu đó và thật sự đạt được thành công khi tuyên bố độc lập hoàn toàn vào năm 1953, chấm dứt 90 năm bị thực dân Pháp đô hộ. Năm 1959, vua Sihanouk thoái vị và trao danh hiệu quốc vương cho cha mình là vua Norodom Saramarith, hoàng thân Sihanouk trở thành Quốc trưởng và trực tiếp điều hành chính phủ.

Trong gian đoạn từ 1950 đến 1970, Vương quốc Campuchia tự chủ và phát triển thịnh vượng, đạt được nAnkowat 2 pilot.vn 239x300 Lịch sử Campuchiahiều thành tựu về mọi mặt. Campuchia thời điểm đó còn được coi là viên ngọc Phương Đông. Không may là gian đoạn này lại chấm dứt qúa nhanh. Chiến tranh leo thang tại Việt Nam đã biến vùng biên giới Campuchia trở thành mục tiên đánh phá của Mỹ. Các diễn biến tiếp theo đã dẫn tới sự kiện ngày 18 tháng 3 năm 1970, tướng Lon Nol được sự hậu thuẫn của người Mỹ làm đảo chính lật đổ Quốc trưởng Sihanouk. Campuchia rơi vào tình trạng chiến tranh ngay sau đó, cuộc chiến chủ yếu diễn ra giữa lực lượng của Lon Nol và Mặt trận kháng chiến cộng sản Khmer, sau này biến tướng trở thành lực lượng Khmer Đỏ đứng dầu bởi Pol Pot. Lực lượng của Lon Nol kiểm soát Campuchia trong hơn 5 năm, cuối cùng sụp đổ bởi Khmer Đỏ vào ngày 17 tháng 4 năm 1975.

Lịch sử hủy diệt lại lập lại một lần nữa: chỉ 3 giờ sau khi quân của Pol Pot tràn vào Phnom Penh, toàn bộ cư dân bị ép buộc di tản khỏi thành phố một thời thịnh vượng để biến nơi đây trở thành đổ nát hoang tàn. Sau cuộc di tản, Khmer Đỏ ép Hoàng thân Sihanouk trở về Phnom Penh để tiếp tục vị trí Quốc trưởng, nhưng thực tế là để giam lỏng ông ngay trong Hoàng cung. Khmer Đỏ bắt đầu thi hành chính sách cai trị khủng bố trên khắp Campuchia. Người dân bị ép buộc một các tàn bạo để lao động trên những cánh đồng như những nô lệ, họ phải chịu cảnh lao động nặng nhọc, bị đánh đập và bỏ đói. Trong xã hội dưới thời Khmer Đỏ không tồn tại khái niệm bệnh viện và trường học, giáo viên và bác sĩ bị đưa đi hành quyết một cách thô bạo và dã man, không cần bất cứ một lý do nào. Tiền tệ bị xóa bỏ, không kinh doanh, không thương mại. Mọi thứ đều trở thành bất hợp pháp và có thể là nguyên nhân để dẫn đến một cái chết bất cứ lúc nào. Tất cả người dân bị buộc sống tập trung trong các trại lao động trong suốt thời gian Khmer Đỏ cai trị, tổng số người chết vì bị tra tấn, bị bỏ đói, bị bệnh không được điều trị y tế hoặc bị hành quyết trong thời kỳ đó xấp xỉ 2 triệu người, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em vô tội bị giết một cách man rợ.

Ngày 7 tháng 1 năm 1979, Chính phủ Công hòa nhân dân Campuchia, được sự trợ giúp của Việt Nam giải phóng thủ đô Phnom Penh. Suốt thập kỷ 80 thế kỷ 20, cùng với sự giúp đỡ từ Việt Nam, người dân Campuchia từng bước xây dựng lại đất nước. năm 1989, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Năm 1991, Hiệp định hòa bình Paris được ký kết, 22,000 quân gìn giữ hòa bình Liên hiệp quốc được gửi tới Campuchia. Tháng 5 năm 1993, Ủy ban chuyển giao quyền lực Liên hiệp quốc tại Campuchia (UNTAC – United Nations Transitional Authority of Cambodia) tổ chức cuộc tổng bầu cử tự do đầu tiên tại Campuchia. Người dân Campuchia đã chọn chính thể quân chủ lập hiến cho đất nước mình với Hoàng thân Sihanouk trở thành vị vua của Vương quốc Campuchia.

Ngày nay, Vương quốc Campuchia trở lại với hình ảnh một nơi yên bình chào đón du khách, một cơ thể đang nỗ lực hồi sinh sau biết bao biến cố. Ngày 29 tháng 10 năm 2004, vua Sihanouk nhường ngôi cho con trai là Quốc vương Sihamoni. Tuy nhiên, vua Sihanouk vẫn giữ vị trí tôn kính trong tim của dân chúng Campuchia.

Người ta biết về nước Phù Nam trước hết là nhờ những ghi chép của thư tịch cổ Trung Hoa như Lương thư (sử nhà Lương 502-556) là đầy đủ hơn cả. “Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn ở phía Tây biển. Nước cách Nhật Nam chừng 7.000 lý và cách Lâm Ấp hơn 3.000 lý về phía Tây Nam. Đô thành cách biển 500 lý. Một con sông lớn từ Tây Bắc chảy về phía Đông và đổ ra biển. Nước rộng hơn 3.000 lý. Đất thấp và bằng phẳng. Khí hậu và phong tục đại để giống Lâm Ấp”.

Tấn thư còn cho biết thêm: “Đất rộng 3.000 lý, có những thành phố xây tường, có lâu đài và nhà ở. Đàn ông Phù Nam xấu và đen, quấn tóc, ở truồng và đi chân không. Tính đơn giản và không trộm cắp. Họ chăm công việc nhà nông, gieo 1 năm gặt 3 năm. Họ thích trang trí bằng điêu khắc, chạm trổ; nộp thuế bằng vàng, bạc, hạt châu, hương liệu. Họ có sách vở, thư viện và nhiều vật khác. Chữ viết giống người Hồ. Ma chay cưới hỏi đại để giống Lâm Ấp”.

  1. Theo truyền thuyết cổ được ghi chép lại bởi Khang Thái (Kang Tai), một quan lại Trung Hoa đã từng tới Phù Nam giữa thế kỷ thứ 3 thì xứ này do một người phụ nữ tên Liễu Diệp (Liu Yeh) cai trị. Sau đó một người nước ngoài tên là Hỗn Điền (Hun Tien), có thể là từ Ấn Độ, sang đã cưới Liễu Diệp và lập ra một triều đại tại đây[3]. Theo các truyền thuyết địa phương thì vị ẩn sĩ Ấn Độ này tên là Kambu đã kết hôn với nữ thần Mera và con cháu của họ được gọi là Kambuja (con cháu của Kambu) và tên ghép của hai vợ chồng trở thành tên dân tộc là Kambu-Mera, Kmer hay Khmer.

    Thực sự thì Phù Nam là một quốc gia hỗn hợp gồm nhiều tộc người khác nhau, do một xứ Phù Nam chánh tông nắm địa vị tôn chủ và các tiểu quốc kia phải thần phục và cống nạp cho nó.

    Triều đại Phù Nam đầu tiên có 4 đời vua kế tiếp nhau là:

    * Hỗn Điền
    * Con Hỗn Điền (chưa rõ tên họ)
    * Hỗn Bàn Huống
    * Hỗn Bàn Bàn

    Tiếp đó một viên tướng khác lên ngôi, lập một triều đại khác bắt đầu là Phạm Sư Man (khoảng 220-280)

    * Phạm Sư Man
    * Phạm Chiêu
    * Phạm Tràng
    * Phạm Tầm

    Vào thế kỷ thứ 5 tài liệu Trung Hoa có nói tới một ông vua tên là Trì Lê Đà Bạt Ma ở ngôi từ 424-438 rồi tới Đồ Da Bạt Ma và Lưu Đà Bạt Ma. Thư tịch cổ còn nói tiếp sau đó nước Phù Nam bị một nước khác ở phía Bắc đánh bại (cuối thế kỷ thứ 6, giữa thế kỷ thứ 7). Phù Nam tới đây là dứt.

    Thời kỳ khủng hoảng của Chân Lạp

    Jayavarman qua đời năm 680. Hoàng hậu Jayadevi, nắm quyền trong khoảng 681-713, đã gây bất bình trong giới quý tộc và quan lại. Do những mâu thuẫn này mà năm 713, Puskaraksa đã truất phế bà và tự lên ngôi, lập kinh đô mới là Sambhupura ở gần Sambaur.

    Do sự biến này mà phần phía Bắc của vương quốc (tức nước Bhavapura cũ) tách ra khỏi Chân Lạp, lập lại nước riêng. Tài liệu Trung Hoa ghi lại là nước chia làm 2: Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp. Biên giới nằm ở núi Dang Reak (nay là biên giới Thái Lan-Campuchia).

    Ở miền Nam, Puskaraksa không thể kiểm soát nổi lãnh thổ của mình. Nhiều nơi nổi lên, tự lập nước riêng. Trong lúc đó vương triều Sailendra của nước Kalinga ở đảo Java, Indonesia mạnh lên đã tấn công vương quốc của Puskaraksa năm 774, chiếm được kinh đô Sambhupura và đẩy đất nước này tới hồi diệt vong.

    Thời kỳ Angkor (802-1432)

    Phục quốc (802-944)

    Đầu thế kỷ thứ 9, nhân khi vương triều Sailendra suy yếu, một người trong hoàng tộc Chân Lạp bị bắt làm tù binh đã trốn về nước, tập hợp lực lượng đấu tranh để thoát ra khỏi ảnh hưởng của Sailendra và thống nhất lại Campuchia, khởi đầu một đế chế hùng mạnh ở Đông Nam Á – đế quốc Khmer (802-1434). Ông lên ngôi vua, lấy hiệu là Jayavarman II.[5]

    Jayavarman II đã cố công tìm kiếm một địa điểm mới để đặt kinh đô. Trong thời của ông, vương quốc đã dời đô nhiều lần, từ Indrapura cho tới Hariharalaya và Mahendrapura ở núi Kulen rồi cuối cùng là quay trở lại Hariharayala.

    Thời kỳ Jayavarman II tại vị, sự sùng bái thần Shiva có khuynh hướng biến thành sự sùng bái nhà vua (Devaraja). Do đó mà ông cũng được tôn sùng như một vị thần. Khi ông qua đời năm 854, người ta đã phong tặng cho ông danh hiệu Paramesvara tức “Chúa tể”.

    Cháu của Jayavarman II là Yasovarman I cai trị từ 889-900 lại tiếp tục dời đô thêm 50 km, tại một nơi mà ông gọi là Yasohadrapura tức là Angkor. Đây là biến âm từ chữ Phạn Nagara, tức “Quốc đô”. Đế quốc Khmer vì thế còn được gọi là vương quốc Angkor, đế quốc Angkor.

    Phát triển (944-1181):
    Rajendravarman II lên ngôi năm 944 được thừa kế cả hai dòng Khmer Nam và Bắc. Ông là con Mahendravarman thuộc hoàng tộc Bhavapura (phía Bắc) và Mahendradevi, dì ruột của Harsavarman II (942-944), vua của dòng Nam. Do sự kiện này mà hai dòng tộc Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp đã lập lại được sự thống nhất. Các văn bia thời kỳ này đều nhấn mạnh về nguồn gốc tộc Mặt trời (Suryavamsa) phía Bắc và tộc Mặt trăng (Somavamsa) phía Nam của vương triều. Tên nước được xác định là Kambuja và vua là Kambujaraja.

    Tuy đã tái thống nhất nhưng giữa hai dòng tộc vẫn có sự mâu thuẫn. Năm 1002, Jayaviravarman II lên ngôi ở Angkor tại miền Nam thì một hoàng thân khác cũng tự lên ngôi ở Sae Mun phía Bắc là Suryavarman I. Năm 1010, Suryavarman I đã lật đổ vua phía Nam rồi làm vua cả hai miền. Năm 1082, Jayavarman VI tự lên ngôi ở Sae Mun cũng đem quân đi lật đổ vua ở Angkor và cai trị vương quốc từ 1082 đến 1107.

    Tuy nhiên về sau thế lực của nhóm phía Bắc tập trung ở Sae Mun dần suy yếu và không còn là đối trọng với phía Nam được nữa. Cuối thế kỷ 12, các văn bia chỉ còn nhắc tới một tộc Kambu Mặt trời nhưng đã di cư xuống phía Nam mà thôi.

    Do sự thống nhất và ổn định, Rajendravarman II vừa lên ngôi đã đem quân sang đánh Champa. [[Suryavarman II] (1002-1050) còn tiến xa hơn, chinh phục được trung và hạ lưu Chao Phya (sông Mae Nam nay thuộc Thái Lan) và cao nguyên Korat. Harsavarman II (1066-1080) đã đánh Champa và Đại Việt. Tới thời Suryavarman II (1113-1150) thì vương quốc đã chinh phục được Champa trong khoảng 1145-1149 và thậm chí 5 lần đem quân đánh Đại Việt (1128, 1129, 1132, 1138, 1150).

    Sau cuộc tranh ngôi năm 1010, kinh đô bị hư hại nặng nên Suryavarman đã cho tiến hành xây dựng Angkor Wat như là một biểu tượng cho sức mạnh của vương triều.

    Cực thịnh (1181-1201):

    Sau khi Suryavarman II qua đời, ngôi vua bị một người lạ tự xưng là Tribhuvanadi, tức Tyavarman, đánh cướp năm 1165 khiến quốc gia suy yếu. Năm 1177, Jaya Indravarman V của Champa thừa cơ tấn công Angkor. Một hoàng thân trẻ phải chờ đợi trong 16 năm mới tập hợp được lực lượng để đánh bại Champa và lên ngôi vua năm 1181, tức Jayavarman VII.

    Trong thời kỳ cai trị của mình, vương quốc Campuchia đã đạt tới đỉnh cao của sự phát triển.

    Sau vài năm để khôi phục vương quốc, Jayavarman VII đã tính tới chuyện trả thù Champa. Năm 1190, Jayavarman VII đã cử một đạo binh lớn sang tấn công Champa và đánh bại hoàn toàn người Chăm. Một hoàng thân được cử tới cai trị và Champa trở thành một tỉnh của Chân Lạp trong một thời gian dài. Ngoài việc đánh Champa, ông còn thôn tính luôn cả Haripunjaya gần biên giới Miến Điện-Thái Lan và bán đảo Malaya. Có thể quân Chân Lạp đã tới được cả Luang Prabang ở Lào nữa.

    Vương quốc Chân Lạp dưới thời Jayavarman VII có 23 tỉnh. Để cai trị đất nước rộng lớn, ông đã cho xây dựng 121 trạm nghỉ (Dharmasala) dọc theo các tuyến giao thông quan trọng mà ngày nay vẫn còn tồn tại dấu tích trên tuyến đường nối Angkor với Pimai ở Thái Lan và từ Sambor cho tới Vi Jaya của Champa (kinh đô Phật Thệ, nay ở Bình Định).

    Suy thoái

    Không rõ Jayavarman VII qua đời năm nào nhưng con trai ông là Indravarman II đã lên thay thế ông sau năm 1201 và cai trị tới 1243.

    Trong những năm cai trị đầu tiên của Indravarman II, Đế quốc Khmer từng 3 lần giao chiến với quân Đại Việt trong các năm 1207, 1216 và 1218. Tuy nhiên, sau năm 1218, không còn thấy Đế quốc Khmer có chiến tranh với các quốc gia khác trong khu vực nữa. Không những vậy, năm 1220, Đế quốc Khmer còn cho lui quân khỏi Champa mà không có bất kỳ sự đấu tranh hay biến động nào từ Champa.

    Ở phía tây, những tộc người Thái nổi dậy, thành lập vương quốc Sukhothai, đẩy lui người Khmer. Trong khoảng 200 năm tiếp theo, người Thái trở thành đối thủ chính của người Khmer. Nối ngôi Indravarman II là Jayavarman VIII (trị vì từ 1243-1295). Không như các vua trước, ông theo đạo Hindu và rất quá khích chống lại đạo Phật. Ông cho phá hủy phần lớn các tượng Phật trong vương quốc (các nhà khảo cổ ước tính trên 10 ngàn tượng Phật bị phá hủy, chỉ để lại rất ít dấu tích) và biến chùa chiền thành đền thờ của đạo Hindu. Từ bên ngoài, đế quốc này bị đe dọa bởi quân Mông Cổ dưới quyền chỉ huy của tướng Sagatu. Nhà vua tìm cách tránh nạn binh đao bằng cách triều cống cho người Mông Cổ, lúc này đang làm chủ Trung Quốc. Triều đại của Jayavarman VIII kết thúc năm 1295 khi ông bị con rể là Srindravarman (trị vì từ 1295-1309) lật đổ. Tân vương là người theo Phật giáo Theravada, là trường phái Phật giáo đến từ Sri Lanka, rồi lan tỏa khắp khu vực Đông Nam Á.

    Sau thời kỳ trị vì của Srindravarman, có rất ít tư liệu ghi lại lịch sử vương quốc thời kỳ này. Cột đá cuối cùng mang văn khắc được biết đến là từ năm 1327. Không có đền đài lớn nào được xây dựng thêm. Các nhà sử học ngờ rằng điều này gắn liền với tín ngưỡng Phật giáo Theravada vốn không đòi hỏi việc xây cất các công trình vĩ đại để thờ phụng. Tuy nhiên, việc vắng bóng các công trình lăng tẩm lớn cũng có thể do việc quyền uy của triều đình sút giảm và do đó thiếu nhân công xây dựng. Các công trình thủy lợi cũng dần đổ nát, mùa màng do đó cũng bị thất bát khi có lũ lụt hoặc hạn hán, làm đế quốc càng suy yếu. Quốc gia Thái láng giềng, vương quốc Sukhothai, sau khi đẩy lùi đế quốc Angkor, bị một vương quốc Thái khác, vương quốc Ayutthaya, chinh phục năm 1350. Từ sau năm 1352, Ayutthaya trở thành đối thủ chính của Angkor. Họ mở nhiều chiến dịch tấn công Khmer, nhưng đều bị đẩy lùi. Tuy nhiên tới năm 1431, cuối cùng thì sức mạnh áp đảo của Ayutthaya cũng trở nên quá lớn để chống lại, và Angkor thất thủ trước quân Thái.

     


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Chương Trình Khuyến Mãi