Những câu chuyện về quần đảo Hải Tặc

Đăng lúc: Thứ sáu - 01/11/2013 09:34 - Người đăng bài viết: lê văn toàn

Quần đảo Hải Tặc, địa danh đã được ghi hẳn hoi trong bản đồ hành chính Việt Nam. Quần đảo xa xôi thuộc vùng biển tây nam Tổ quốc này từng là nỗi khiếp sợ cho những người đi biển, bởi nạn cướp biển hoành hành. Nơi đây còn được biết đến là nơi chứa kho vàng bí ẩn… Đến quần đảo Hải Tặc , chúng tôi được nghe rất nhiều huyền thoại biển cả và bất ngờ diện kiến hậu duệ của thủ lĩnh “Cánh buồm đen”…

Những câu chuyện về quần đảo Hải Tặc

Những câu chuyện về quần đảo Hải Tặc

Chuyện tấm bia chủ quyền
Gió biển ngày cuối năm quất mạnh, sóng vỗ tung bờ đá như muốn giải tỏa nỗi niềm. Không thể vô tình khi biển thổn thức bên tai, chưa hừng sáng, tôi hối anh bạn lò dò ra biển. Đúng hẹn, ông Tư Nam (Nguyễn Văn Nam) chờ giúp chúng tôi tìm tấm bia đá nằm bên mép biển hơn nửa thế kỷ qua trên đảo Hòn Tre. Chúng tôi nhận ra khối bê tông hình tháp cao khoảng 3 m đã cũ, mặt hướng về phía tây, nhìn thẳng qua vùng biển thuộc Campuchia.
Màu mực đen nhạt phai nhưng vẫn còn thấy rõ hàng chữ “Quần đảo Hải Tặc” trên tấm bia, kèm theo là tọa độ. Phần đế trụ chữ nhỏ khắc sâu ghi tên các hòn đảothuộc quần đảo này. Dòng chữ cuối cùng ghi: “Phái bộ quân sự thị sát và nghiên cứu, đến viếng quần đảo ngày 28/7/1958”. Là nhân chứng trực tiếp lúc đặt tấm bia này, ông Tư kể: “Vào buổi sáng năm 1958, tàu hải quân của chính quyền Sài Gòn chở khối bê tông đúc sẵn cho tàu cặp bến, chân đế được xây nhanh chóng nhưng rất kiên cố, tấm bia được dựng lên từ đó...”. Theo ông Tư, tấm bia nhằm khẳng định chủ quyền biển Việt Nam vì nơi này là biên giới trên biển giáp với Campuchia. Nhiều thập kỷ trôi qua, tấm bia ấy gần như bị quên lãng, mặc tình sóng vỗ, cây cỏ vây quanh và ít khi được nhắc đến như một sứ mệnh chủ quyền...Mặt trời vừa lên, hàng dừa cao nghiêng bóng xuống biển nước trong xanh như cô gái làm duyên trước người khách lạ. Eo biển uốn lượn đường cong xinh đẹp, nhô ra xa là hai hòn đảo được người dân gọi là “Phụ - Tử”. Tổ quốc giữa trùng khơi đẹp quá! Đối với chúng tôi, tấm bia đá kia cũng mang trong nó một sứ mệnh cao cả, cũng là một nét đẹp rất thực, rất đời... Người dân đảo ai cũng quý nó như một thực thể tồn tại cùng họ suốt ngần ấy thời gian. Dẫu rằng ai dựng nó lên đi nữa thì bản thân nó cũng là khối đá có ghi chủ quyền và chứa một phần lịch sử.
Băng cướp “Cánh buồm đen”
Sự dữ dằn của băng cướp “Cánh buồm đen” có bản doanh ở quần đảo Hải Tặc vẫn còn vang dội đến hôm nay. Biểu tượng cây chổi màu đen treo trên cột buồm của hải tặc hàm ý quét sạch tàu thuyền qua lại vùng biển này. Theo nhà Hà Tiên học Trương Minh Đạt, tài liệu ghi chép lại vùng biển tây nam, cướp biển từng hoành hành, nổi tiếng là băng cướp “Cánh buồm đen”, tuy nhiên chỉ hoạt động mạnh đến khoảng đầu thế kỷ XX. Vào thời Mạc Thiên Tích (đầu thế kỷ XVIII), vùng đất Hà Tiên phát triển mạnh với nhiều thương cảng sầm uất, tàu buôn các nước qua lại vùng biển này vận chuyển hàng đôngđúc. Lợi dụng địa hình nhiều đảo hoang nằm xen cài trên vùng biển rộng, giao thương nhộn nhịp, nhiều toán cướp biển hình thành và hoạt động mạnh. Ngay trong vịnh Thái Lan có nhiều toán cướp, tuy nhiên băng cướp đóng doanh trại quần đảo Hải Tặc với biệt danh “Cánh buồm đen” là nỗi khiếp sợ cho tàu bè qua lại, mãi đến đầu thế kỷ XX mới hết lộng hành.
Chúng tôi bất ngờ diện kiến lớp hậu duệ của băng cướp nổi tiếng này khi họ đang sinh sống trên đảo. Vị “thủ lĩnh” cướp biển một thời đã yên nghỉ nơi đây. Đối với người dân đảo, họ không xem hải tặc ngày xưa trên đảo này nguy hiểm, trong mắt họ, băng cướp ấy còn là “nghĩa sĩ”, võ nghệ cao cường, chủ yếu cướp từ tàu buôn nước ngoài rồi về chia lại cho dân nghèo, khác với những toán cướp hung tàn từ nơi khác đến... Trong cơn mưa chiều đổ ập bất chợt, gió đảo thổi ầm lên như rung chuyển hòn đảo nhỏ, ông Tư Nam trầm ngâm rồi bật mí một điều mà chúng tôi bối rối. Chính ông Tư là cháu ngoại của thủ lĩnh “Cánh buồm đen”.
Thêm bất ngờ nữa khi chúng tôi được cụ bà 86 tuổi “cho phép” tiếp chuyện, bà ngại gặp người lạ vì chính bà lưu giữ một phần quá khứ lừng danh của cướp biển. Bà Mười (tên thật là Nguyễn Thị Gái), còn khỏe lắm dù bà than mới đi Cần Thơ trị bệnh về. Ngôi nhà của bà sát biển, êm đềm với bờ cát mịn trên đảo Hòn Tre. Dõi đôi mắt nhìn ra khơi, bà nhớ lại thời mới đặt chân lên đảo vốn còn hoang vắng với bao gian truân.
  
Khi chúng tôi nhắc đến “hải tặc” ở quần đảo này, bà Mười không né tránh, theo bà, đó là quá khứ rồi. Tuy nhiên, không phải ai bà cũng kể, ngay cả ông Tư Nam, con ruột bà Mười cho biết rất ít khi bà nói về chuyện đó. Chắc cũng là cái duyên, bà Mười chậm rãi: “Hồi trai trẻ, cha tôi - ông Nguyễn Thanh Vân (1892 - 1974) chuyên lặn tìm ngọc trai khắp vùng biển rộng này, ông rất giỏi võ nghệ, cả 10 thanh niên không đánh nổi. Ông rành biển này như bàn tay, bạn bè tứ phương thấy ông giỏi võ nên họ rủ ông tham gia... nhưng là lấy từ tàu buôn giàu có về chia cho dân nghèo thôi, ông không đem gì về nhà cả. Rồi gặp mẹ tôi, cô gái người Thái Lan kết nghĩa vợ chồng, ông giải nghệ. Hai người sống cuộc đời lam lũ và nằm yên trên hòn đảo này từ đó”. Giọng bà Mười chùng xuống và nói sang chuyện xây chùa, ngôi chùa nhỏ duy nhất trên đảo do bà tự tích góp dựng để người dân có nơi cầu cho chuyến đi biển bình an, trong đó cũng có phần ý nguyện của cha bà như để sám hối một thời hùng cứ.

Băng cướp “Cánh buồm đen” là có thật nhưng người dân trên đảo không xem đó là nỗi khiếp sợ. Cái họ sợ chính là những tên cướp biển, đám ô hợp từ nước khác vẫn tung hoành cướp phá, giết chóc ngư dân xảy ra đến tận hôm nay trên chính vùng biển này. Anh Phan Hồng Phúc, chánh văn phòng UBND xã Tiên Hải trăn trở, vùng biển này vẫn còn đó nỗi lo vì thỉnh thoảng tàu nước ngoài bắt tàu cá ngư dân tống tiền, trong năm 2011 xảy ra 2 - 3 vụ.

Chính ông Tư Nam là nạn nhân cướp biển kinh hoàng, ông bị đánh bầm giập phải uống thuốc suốt 3 tháng trời. Một lần khác, trong lúc ông mưu sinh trên biển, bọn hải tặc nổ súng bắn xuyên qua đùi ông để thị uy. Ông Tư nhớ lại, khoảng năm 1994, trong lúc đi cào thì cướp biển ập tới với súng ống lỉnh kỉnh, bọn chúng kéo 2 tàu về Campuchia và tống giam mọi người ở núi Mây đánh đập. Lợi dụng chúng sơ hở, ông băng đồng tìm đường về Việt Nam, chạy bộ suốt ba ngày đêm trong đói khát về tới cửa khẩu Hà Tiên nhờ biên phòng giúp đỡ.  Thoát mạng, phải chạy vay 1 cây vàng nhờ vợ ông qua đó chuộc tàu về. Và rồi chẳng bao lâu, ông lại bị nổ súng cướp lần nữa và mang thương tật đến giờ. Ông Tư trầm ngâm: “Nghĩ lại số tui còn hên chứ trước nhiều ngư dân bị cướp tàu, thủ tiêu mất tích luôn người. Băng cướp ấy có nhiều thành phần, cả tàn quân Khmer đỏ, chúng trang bị nhiều vũ khí nên ngư dân không thể chống cự, chúng tràn qua vùng biển Việt Nam gây án rồi chạy về”.
Kho báu bí ẩn
Quần đảo Hải Tặc còn được lưu truyền là đảo giấu vàng đầy bí ẩn. Chứng minh điều đó không chỉ truyền miệng mà bằng câu chuyện có thật, được lưu vào hồ sơ của công an tỉnh Kiên Giang và chính người dân trên đảo khi tham gia bắt giữ những kẻ đột nhập. Tháng 3/1983, quần chúng ở xã Tiên Hải dùng tàu biển vây bắt hai người nước ngoài xâm nhập vào đảo, một người Richard Charles Knight, quốc tịch Anh, một người Mỹ là Frederick Kurt Graham. Họ vào đảo bằng bobo (xuồng cao tốc), bị thu hai máy bộ đàm, hai máy chụp hình, một máy quay phim, một ống dòm, nhiều bản đồ, hải đồ và dụng cụ khác. Hai người khai rằng mình có một tấm bản đồ được vẽ cách đây 300 năm được dòng họ truyền lại và chỉ dẫn tới kho báu hải tặc chôn giấu ở quần đảo này.

Ông Tư dẫn chúng tôi đến nơi mà bọn kia xâm nhập tìm kho báu thuộc đảo Hòn Tre. Con đường bê tông uốn quanh đảo giữa hai bên núi và biển xinh đẹp. Trùng khơi xanh thẳm, thấp thoáng bên kia là thành phố của nước bạn Campuchia. Cuối dốc là bãi cát trắng ưỡn mình ra biển rợp bóng cây xanh, chính nơi đây, chiếc xuồng cao tốc cùng hai ông Tây lao vào rồi mang xách các thứ đồ nghề lên bờ tìm kho báu. Thấy hai vị khách lạ có nhiều máy móc , bản đồ xẻng đào … hùng hục tìm kiếm, ban đầu người dân hiếu kỳ đến xem, khi biết được họ tìm kho báu trái phép lập túc báo biên phòng và vây giữ họ lại. Oâng Tư kể tiếp, trong bản đồ của họ có đánh dấu băng những tảng đá lớn mép biển, ăn sâu lên núi, khoanh vùng kho báu trên đảo. Người dân đảo tin rằng, khả năng dấu vàng là có thể vì xưa kia tàu buôn chở vàng qua lại vùng này rất nhiều, dân đảo thỉnh thoảng phát hiện nhiều đồng tiền cổ.
Đảo gọi
Trong buổi chiều muộn, ông Tám Hên (Mạc Văn Hên) kể tôi nghe những năm tháng sống cùng hoang đảo. Khi ấy toàn đảo chưa tới chục căn nhà, rừng rậm nên đêm xuống tối mịt mùng, mùa gió thổi cứ như bão tới. Có lẽ bù đắp cho khắc nghiệt ấy, biển cả hào phóng cho con người rất nhiều tôm cá. Ông Tám nhớ lại: “Hồi ấy, cá tôm nhiều lắm, nhiều đến mức chúng muốn nhảy lên bờ. Xuồng bắt cá ven bờ, cá nhiều quá chỉ bắt phân nửa chở đầy ghe vào, phân nửa vây lưới lại để đó quay ra chở tiếp. Ở đây ngư dân hay bắt được loài ghẹ khổng lồ, gọi là ghẹ nhàn, khi bung càng ra đo dài cả thước. Dân đảo được biển “nuôi” bằng tôm cá, thấy dễ sống nên dân ra đảo nhiều hơn, không còn hoang vắng nữa. Sống ở vùng biên hải này, sống nghĩa tình, cả với những người bạn bên kia biên giới. Cùng là ngư dân nghèo cả nên tàu nước bạn Campuchia có vào vùng biển Việt Nam đánh cá, mình cũng chào nhau, đối xử tử tế chứ không gay gắt làm gì”.

Chúng tôi trở về nhà trọ khi màn đêm vây phủ, dân đảo không thèm đóng cửa, nhiều nhà xe máy dựng tạm một góc nào đó. Bà chủ nhà trọ, cũng là bà chủ tàu khách, nhờ con dâu nấu hai tô mì giúp chúng tôi qua bữa vì trên đảo không có quán cơm. Dù chưa quen nhưng lại thân tình, anh thợ hớt tóc Hoàng Ty, người đậm chất nghệ sĩ, không biết lẽ nào mà anh rời đất Tây Đô ra đảo một thân lập nghiệp. Anh kể nhiều về những tình cảm của dân xứ đảo và “tự thú” rằng, xứ đảo này đã níu chân anh.
Chúng tôi hiểu, đảo xa cũng là một phần Tổ quốc, cũng tình đất, tình người - khi đã nặng mang thì làm sao mà xa được! Và chúng tôi cũng sẽ trở lại...
 
Bình minh trên quần đảo Hải Tặc
 
Quần đảo Hải Tặc thuộc xã đảo Tiên Hải (TX. Hà Tiên, Kiên Giang), nằm trong vịnh Thái Lan, giáp Campuchia. Có 14 hòn đảo lớn nhỏ, 6 hòn có người ở với 476 hộ (1.756 nhân khẩu). Dân đảo sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản. Nguồn nước sinh hoạt lấy từ nước mưa, máy phát điện xã chạy 7 giờ/ngày, học sinh học đến lớp 9 thì hết lớp. Phương tiện ra đảo bằng tàu khách từ thị xã Hà Tiên, mỗi ngày có 1 - 2 chuyến tùy mùa.
 
Thanh Tâm
 
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Chương Trình Khuyến Mãi